1. Tình hình kiểm kê khai thác sử dụng nước dưới đất trên thế giới
1.1. Liên hiệp Vương quốc Anh
Tổng cục Thống kê Liên hiệp Vương quốc Anh (UK National Statistics - UKNS) tính toán, tổng hợp và xuất bản số liệu thống kê về tài nguyên nước trong các hạng mục Đất và Nước Nội địa, Nước thải và Tái sử dụng nước thải thuộc chủ đề Nông nghiệp và Môi trường với nhiều chỉ tiêu thống kê chi tiết như:
+ Mực nước ngầm tại các trạm quan trắc đại biểu; tổng lượng nước ngầm khai thác hàng năm phục vụ cấp nước sinh hoạt, sản xuất nhiệt điện, tưới nông nghiệp…;
+ Tổng lượng nước hàng năm bị thất thoát trong quá trình khai thác phục vụ cấp nước sinh hoạt, sản xuất công nghiệp và tưới nông nghiệp;
+ Diễn biến chất lượng nước dưới đất; tổng lượng nước thải, tổng lượng nước thải được xử lý, tổng lượng nước thải được tái tuần hoàn;
+ Số lượng giấy phép khai thác nước ngầm được cấp, số lượng các vụ vi phạm giấy phép khai thác nước.
1.2. Australia
Hàng năm, Tổng cục Thống kê Úc (Australian Bureau of Statistics - ABS) đã tính toán, tổng hợp và xuất bản số liệu thống kê về tài nguyên nước với những chỉ tiêu thống kê chi tiết như: tổng lượng mưa năm, tỷ lệ phần trăm lượng mưa năm so với lượng mưa năm trung bình nhiều năm; tổng lượng tài nguyên nước, tổng lượng nước khai thác; tổng lượng nước tiêu thụ cho các hoạt động nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản, khai khoáng, công nghiệp nhẹ, sản xuất điện năng và khí đốt, các ngành công nghiệp khác, cấp nước sinh hoạt; dung tích và thể tích các hồ chứa lớn; tổng lượng nước được phép khai thác; tổng lượng nước được phân bổ, tổng lượng nước buôn bán cho toàn Liên bang và cho từng Bang.
Kiểm kê số lượng nước dưới đất gồm 02 nội dung chính là:
+ Nguồn nước (tổng lượng nước trung bình năm có thể khai thác kể cả nước cho môi trường, tổng lượng nước trung bình năm thực tế khai thác, sử dụng, những công trình khai thác dưới đất chính (vị trí và tổng lượng);
+ Các đặc trưng tầng chứa nước dưới đất bao gồm: độ sâu trung bình của nước dưới đất trong một tầng chứa nước, độ dầy bão hòa, độ muối), mực nước, lưu lượng nước dưới đất trung bình tháng.
Kiểm kê chất lượng tài nguyên nước tập trung vào 05 thông số là: pH, độ đục, độ dẫn điện/độ muối, tổng Nitơ, tổng Phốtpho.
Kiểm kê khai thác, sử dụng nước bao gồm: tổng lượng nước mặt, nước ngầm; tỷ số lượng nước mặt trên nước ngầm được khai thác, sử dụng trong thực tế; tổng lượng nước được khai thác, sử dụng cho tưới tiêu, cho đô thị/công nghiệp, nông thôn; tổng lượng nước được xử lý, tổng lượng nước được tái sử dụng.
1.3. Trung Quốc
Năm 1999, Chính phủ đã ban hành "Hướng dẫn đánh giá tài nguyên nước" - A Guide To Water Resources Assessment. Trong đó, quy định các chỉ tiêu kiểm kê và phương pháp đánh giá tài nguyên nước bao gồm số lượng, chất lượng nước mưa, nước mặt và nước dưới đất; đánh giá tình trạng khai thác, sử dụng tài nguyên nước và ảnh hưởng của các hoạt động này đến tài nguyên nước. Đặc biệt, khi đánh giá tài nguyên nước các lưu vực sông hoặc vùng và cả nước họ đã xét đến phần lượng nước ngầm của sông suối do nước dưới đất cung cấp. Do đó, đã tính được tổng lượng tài nguyên nước, bao gồm tổng của lượng nước mặt và lượng nước dưới đất một cách chính xác hơn.
Hàng năm, tài nguyên nước của thành phố Bắc Kinh được thống kê và đăng tải trên trang web http://www.ebeijing.gov.cn/. Các chỉ tiêu thống kê tài nguyên nước chủ yếu là: tổng lượng tài nguyên nước trong năm (tổng lượng tài nguyên nước mặt, tổng lượng tài nguyên nước dưới đất, lượng nước bình quân tính theo đầu người); tổng lượng nước được sử dụng trong năm bao gồm nước mặt, nước dưới đất, nước tồn tại dưới đạng khác, nước dùng cho nông nghiệp, công nghiệp, sinh hoạt); lượng nước sử dụng trong năm bình quân tính theo đầu người, lượng nước cần tiêu thụ để làm ra 10.000 Nhân dân tệ GDP; tỷ lệ % giảm tiêu thụ nước để làm ra 10.000 Nhân dân tệ GDP; tổng lượng nước thải, nước có thể tái sử dụng, nước dùng tiết kiệm trong năm; tổng lượng nước thải công nghiệp, tải lượng COD.
2. Tình hình kiểm kê khai thác sử dụng nước dưới đất trong nước
Công tác điều tra nghiên cứu địa chất thuỷ văn và đánh giá tiềm năng nói chung và kiểm kê khai thác sử dụng tài nguyên NDĐ nói riêng từ trước đến nay được Nhà nước đầu tư chủ yếu cho ngành Địa chất. Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam (tiền thân là Tổng cục Địa chất) trước kia và Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước ngày nay là đơn vị chính được nhà nước giao thực hiện công tác điều tra cơ bản về địa chất thuỷ văn, điều tra cơ bản tài nguyên NDĐ và quan trắc động thái NDĐ. Công tác điều tra đánh giá tài nguyên NDĐ có thể nhóm gộp thành 3 nhóm: (i) điều tra nghiên cứu cơ bản ĐCTV, (ii) điều tra đánh giá tài nguyên NDĐ và (iii) các đề tài, nghiên cứu chuyên đề.
2.1. Công tác điều tra nghiên cứu cơ bản địa chất thuỷ văn
Công tác điều tra cơ bản địa chất thuỷ văn bao gồm chủ yếu là việc đo vẽ lập bản đồ địa chất thuỷ văn các tỷ lệ khác nhau. Tính đến năm 1983, công tác lập bản đồ địa chất thuỷ văn tỷ lệ nhỏ (1/500.000) đã hoàn thành với tổng số 3 đề án phủ toàn bộ phạm vi lãnh thổ. Công tác đo vẽ lập bản đồ địa chất thuỷ văn tỷ lệ trung bình (1/200.000) đã hoàn thành trên trên diện tích khoảng 240.000 km2 ở các vùng kinh tế quan trọng như các vùng đồng bằng, vùng trung du, vùng Tây Nguyên… đạt 73% diện tích toàn lãnh thổ với tổng số 11 đề án. Công tác đo vẽ lập bản đồ địa chất thuỷ văn tỷ lệ lớn (1/50.000 - 1/25.000) đã thực hiện được trên diện tích khoảng 30.000 km2, xấp xỉ 10% diện tích toàn lãnh thổ, với tổng số 39 đề án.
Kết quả của công tác đo vẽ lập bản đồ địa chất thuỷ văn các tỷ lệ khác nhau mô tả trên đây đã được sử dụng làm cơ sở cho việc điều tra địa chất thuỷ văn tiếp theo, phục vụ tốt cho việc lập quy hoạch, chiến lược, sách lược khai thác sử dụng NDĐ. Tuy nhiên hiện nay cũng còn bộc lộ nhiều thiếu sót. Công việc tiến hành chậm chưa đáp ứng đòi hỏi yêu cầu bức thiết hiện nay. 27% diện tích của đất nước nhất là vùng núi phía bắc, vùng núi Bắc Trung bộ còn để trắng chưa có bản đồ địa chất thuỷ văn tỷ lệ trung bình. Đo vẽ lập bản đồ địa chất thuỷ văn tỷ lệ lớn làm được còn quá ít.
Mặt khác các vùng đã được phủ bởi các loại bản đồ địa chất thuỷ văn tỷ lệ khác nhau được thực hiện trong các thời gian khác nhau chưa được nhất quán về phương pháp, mục tiêu nhiệm vụ nghiên cứu, đặc biệt chưa một lần được chỉnh lý, chỉnh biên để ghép nối. Đáp ứng đòi hỏi hiện nay là phải nghiên cứu đánh giá tài nguyên NDĐ trên quan điểm tổng hợp, không những theo vùng lãnh thổ mà còn phải theo lưu vực sông, theo tầng chứa nước, theo các đơn vị hành chính, nên một mặt cần xúc tiến đẩy nhanh công tác điều tra nghiên cứu cơ bản địa chất thuỷ văn, mặt khác cần được liên tục cập nhật số liệu, chỉnh lý bổ sung, chỉnh biên ghép nối để thuận tiện cho việc sử dụng.
2.2. Công tác điều tra đánh giá tài nguyên nước dưới đất
Công tác điều tra đánh giá tài nguyên NDĐ nhằm xác định điều kiện ĐCTV, số lượng, chất lượng và khả năng khai thác sử dụng nguồn NDĐ làm cơ sở cho việc lập quy hoạch khai thác, sử dụng, bảo vệ, phát triển TNN, quy hoạch lưu vực sông, vùng lãnh thổ.
Dạng công tác điều tra này mới được quy định cụ thể theo quyết định số 13/2007/QĐ-BTNMT ký ngày 4 tháng 9 năm 2007, bao gồm 4 loại: (i) Điều tra, đánh giá tổng quan; (ii) Điều tra, đánh giá sơ bộ; (iii) Điều tra, đánh giá chi tiết; (iv) Điều tra, đánh giá theo chuyên đề. Tính đến nay, đã có 182 dự án, đề án điều tra đánh giá tài nguyên nước dưới đất đã được các cơ quan của của Bộ TNMT, chủ yếu là 3 LĐ Quy hoạch & Điều tra tài nguyên nước trực thuộc Trung tâm QH&ĐT TNN thực hiện.
Các dự án này hầu hết ở dạng điều tra tìm kiếm, có mức độ điều tra rất sơ lược, chủ yếu nhằm tìm kiếm các đối tượng chứa nước, phát hiện các điểm chứa nước làm tiền đề cho các giai đoạn điều tra tiếp theo, nhưng diện tích tìm kiếm cũng chỉ đạt khoảng 41.000 km2 (chiếm 12,5% diện tích tự nhiên).
Ngoài ra, tùy theo nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội mà từng địa phương còn tiến hành các điều tra đánh giá tài nguyên nước dưới đất nằm trong địa bàn của mình. Số lượng các điều tra khảo sát này được phỏng đoán là khá lớn.
Tuy nhiên, các điều tra đánh giá này đều do các đoàn QH ĐT TNN trực tiếp thực hiện (dưới hình thức được thuê khoán) trên cơ sở tổng hợp các tài liệu điều tra cũ và các tài liệu điều tra khảo sát bổ xung. Tài liệu kết quả của các điều tra này đều do các sở TNMT các tỉnh quản lý. Do đó việc tiến hành thu thập, thống kê và tổng hợp nguồn số liệu này là việc cần làm trong thời gian tới.
Trong tương lai, số lượng các đề án thuộc dạng công tác điều tra này sẽ rất lớn và sẽ chiếm tỷ trọng chủ yếu trong các công tác điều tra liên quan đến nước ngầm.
2.3. Các công tác, nghiên cứu mang tính chuyên đề, chuyên khảo
Công tác nghiên cứu, điều tra, đánh giá tài nguyên nước ngầm kèm theo các chương trình điều tra cơ bản khác của các bộ, ngành, địa phương (ví dụ như chương trình điều tra địa chất đô thị Việt nam do Cục ĐC & KS Việt Nam tiến hành từ năm 1990) hay các chương trình, đề án chính phủ nhằm điều tra đánh giá tài nguyên nước ngầm theo khu vực địa lý (ví dụ đề án điều tra đánh giá nước dưới đất 7 tỉnh miền núi phía bắc, đề án điều tra đánh giá nước dưới đất 5 tỉnh Tây nguyên, đề án điều tra đánh giá nước dưới đất ở các hải đảo và thủy vực ven biển) cũng chiếm một tỷ trọng lớn về khối lượng thực hiện cũng như kết quả sản phẩm thực hiện là tương đối lớn đóng góp cho công tác điều tra cơ bản tài nguyên nước ngầm.
Với mỗi chương trình, đề án chính phủ như vậy, công tác điều tra, đánh giá tài nguyên NDĐ được tiến hành theo nhiều vùng hay diện tích riêng biệt là đối tượng của chương trình, đề án đó; có thể coi việc điều tra, đánh giá trên từng vùng hay diện tích này là một đề án điều tra tài nguyên nước ngầm nhỏ, hoàn chỉnh nằm trong một chương trình/đề án lớn.
Ví dụ Chương trình Điều tra Địa chất đô thị được tiến hành trên 60 khu đô thị lớn của cả nước, do vậy có 60 công tác điều tra đánh giá tài nguyên nước ngầm đã được thực hiện đi kèm theo Chương trình này; cũng tương tự như vậy, đề án “Điều tra, đánh giá nguồn nước dưới đất khu vực trung du và miền núi Bắc Bộ 2007- 2008” bao gồm 62 vùng điều tra (62 công tác điều tra); Dự án “Điều tra, đánh giá nước dưới đất ở một số vùng trọng điểm thuộc 5 tỉnh Tây nguyên” bao gồm 27 vùng; đề án “Điều tra, đánh giá nước dưới đất ở một số vùng trọng điểm thuộc 7 tỉnh đặc biệt khó khăn miền núi phía Bắc” bao gồm 35 vùng điều tra; Nhiệm vụ “Điều tra, đánh giá quy hoạch sử dụng đất, nước mặt tại các thủy vực ven biển; tiềm năng nước dưới đất vùng ven biển và hải đảo” thuộc đề án “Điều tra cơ bản tài nguyên và môi trường biển” bao gồm 18 vùng điều tra; Chương trình “Điều tra, đánh giá nước dưới đất vùng biên giới, hải đảo” bao gồm 15 vùng điều tra. Phần lớn các hạng mục công việc của các chương trình, đề án chính phủ nêu trên đều do các đơn vị của 3 LĐ QHĐT TNN và Cục ĐC&KS Việt Nam thực hiện.
Ngoài ra, còn có các nghiên cứu, điều tra mang tính chuyên đề, chuyên khảo, các đề tài nghiên cứu khoa học công nghệ liên quan đến lĩnh vực ĐCTV. Đến nay đã hoàn thành các công trình nghiên cứu cơ bản về NDĐ có liên quan đến đánh giá điều kiện địa chất thuỷ văn và tiềm năng NDĐ sau đây:
- Đề tài cấp Nhà nước:
+ NDĐ Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam hoàn thành 1983
+ Nước khoáng nước nóng Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam hoàn thành 1984
- Các đề tài nghiên cứu địa chất thuỷ văn khu vực đã hoàn thành và xuất bản các chuyên khảo sau:
+ NDĐ các đồng bằng ven biển Bắc Trung bộ năm 1996
+ NDĐ các đồng bằng ven biển Nam Trung bộ năm 1998
+ NDĐ vùng Tây Nguyên năm 2000
+ NDĐ đồng bằng Nam bộ năm 2000
+ NDĐ đồng bằng Bắc bộ năm 2001.
Ngoài các đề án, dự án điều tra tài nguyên nước dưới đất do Bộ TNMT thực hiện nêu trên, công tác thăm dò tìm kiếm khai thác nước dưới đất cũng đã được một số đơn vị thuộc Bộ NN&PT NT, các Sở TNMT các tỉnh, các cơ quan và doanh nghiệp thực hiện nhằm phục vụ nhu cầu sử dụng nước của các đơn vị này và của người dân địa phương. Tuy nhiên, các dạng công tác thăm dò tìm kiếm này thường không theo quy chuẩn điều tra đánh giá tài nguyên nước, tài liệu kết quả lại nằm rải rác rất khó tìm kiếm và thu thập. Trong quá trình thực hiện đề án, chúng tôi cũng sẽ chú ý tới nguồn tài liệu này nếu kinh phí và tình hình thực tế cho phép.
Ngoài ra còn rất nhiều đề tài nghiên cứu khoa học công nghệ khác, của nhiều cơ quan thuộc các Bộ ngnàh ở Trung ương và địa phương, cá nhân thực hiện mà không có điều kiện thu thập tổng hợp để hệ thống và liệt kê được.