1. Khung quản lý theo Hiệp hội Nước quốc tế (2016)
“Các lộ trình dịch vụ nước trong nền kinh tế tuần hoàn” được Hiệp hội Nước Quốc tế đưa ra vào năm 2016 hướng đến các nhà ra quyết định về sử dụng nước, các cơ quan quản lý, nhà tài chính, nhà tư vấn, ngành công nghiệp và nhà nghiên cứu (IWA 2016). Các lộ trình này sẽ hỗ trợ việc xác định các cơ hội và các phương thức để tận dụng tối đa các cơ hội đó theo ba lộ trình có liên quan với nhau: (1) Lộ trình nước; (2) Lộ trình vật liệu và (3) Lộ trình năng lượng. Bên cạnh đó, các khung này có thể cung cấp cơ sở để khởi xướng và phát triển các cuộc đối thoại quốc gia hoặc khu vực, xung quanh các lộ trình dịch vụ nước trong nền KTTH, tính đến bối cảnh địa phương. (IWA 2016).
2. Khung quản lý theo Hội đồng Doanh nghiệp Thế giới về Phát triển bền vững (2017)
“Hướng dẫn Doanh nghiệp về Quản lý nước tuần hoàn: tiêu điểm về giảm thiểu, tái sử dụng và tái chế” của Hội đồng Doanh nghiệp Thế giới về Phát triển bền vững (WBCSD 2017) được đưa ra để hỗ trợ doanh nghiệp phát triển các chiến lược ứng phó với những thay đổi và tranh chấp liên quan đến tài nguyên nước thông qua áp dụng mô hình quản lý nước tuần hoàn. Hướng dẫn này đã đề xuất các giải pháp để vượt qua các rào cản phổ biến gặp phải khi xây dựng hoặc thực hiện chiến lược quản lý nước tuần hoàn, tập trung vào 3 bước giảm thiểu, tái sử dụng và tái tạo trong phương pháp tiếp cận 5R. Hướng dẫn này cũng phát triển một môi trường kinh doanh vững chắc để giảm sử dụng nước, tái sử dụng hoặc tái tạo nước, nhằm mục đích đảm bảo lợi tức đầu tư có thể chấp nhận được cho các công ty bằng cách tính đến chi phí thực của nước cũng như giúp họ tuân thủ các quy định về khai thác và xả thải nước.
3. Khung quản lý theo Ngân hàng ING (2017)
“Ít hơn là nhiều hơn: các giải pháp kinh tế tuần hoàn cho tình trạng thiếu nước” của Ngân hàng ING (ING Bank 2017) đưa ra các giải pháp chuyển đổi từ “khai thác, sản xuất và vứt bỏ” đối với việc sử dụng nước và tìm cách thay đổi các cách tiếp cận thành “giảm thiểu, tái sử dụng và giữ lại” tuần hoàn. Khung quản lý này tập trung vào các nhớm giải pháp chính như: Giảm thiểu (giảm nhu cầu sử dụng nước ngọt trong nông nghiệp, công nghiệp, hộ gia đình và giảm ô nhiễm nguồn nước); Tái sử dụng (nước xám và nước đen) và lọc nước sinh thái; Cùng các biện pháp giữ nước.
4. Khung quản lý “Nước và Kinh tế tuần hoàn” theo EMF, ARUP, và Antea Group (2018)
“Nước và Kinh tế tuần hoàn: Trang giấy trắng” (EMF, ARUP, and Antea Group 2018) hướng đến áp dụng các nguyên tắc kinh tế tuần hoàn để giải quyết vấn đề khủng hoảng nước toàn cầu thông qua những nỗ lực để đạt được lợi ích chung. Các nguyên tắc của KTTHH được áp dụng vào hệ thống nước theo 03 nhóm chính, bao gồm: (1) Thiết kế loại bỏ chất thải và chất ô nhiễm; (2) Sử dụng tối đa các sản phẩm và nguyên liệu; và (3) Tái tạo hệ thống tự nhiên.
5. Khung quản lý “WICER” theo Ngân hàng Thế giới (2021)
“Nước trong kinh tế tuần hoàn và khả năng chống chịu” (WICER) của Ngân hàng Thế giới (Delgado et al. 2021) hướng tới tạo ra các hiểu biết chung về kinh tế tuần hoàn và khả năng chống chịu trong lĩnh vực cấp nước đô thị. Tương tự như Khung Nước và Kinh tế tuần hoàn, khung WICER cũng đưa ra các yếu tố cốt lõi của một hệ thống nước tuần hoàn và có khả năng chống chịu với 03 nhóm các kết quả chính để đạt được mục tiêu này bao gồm: (1) Cung cấp các dịch vụ có khả năng chống chịu và toàn diện; (2) Loại bỏ chất thải và ô nhiễm; và (3) Bảo tồn và tái tạo các hệ thống tự nhiên
Thay đổi cách tiếp cận đối với việc quản lý tài nguyên nước có thể giúp nâng cao hiệu quả cho các nhà quản lý và tạo điều kiện cho các doanh nghiệp, các tổ chức hay cá nhân đang khai thác, sử dụng tài nguyên nước. Việc áp dụng các khung quản lý là linh hoạt, tuy vậy, cần hướng tới mục tiêu chung: giảm thiểu các tình trạng gây ô nhiễm, suy thoái, cạn kiệt tài nguyên nước; hạn chế các xung đột trong vấn đề an ninh nguồn nước…
Các mô hình đã và đang được áp dụng trên thế giới chính là bài học kinh nghiệm, mở ra nhiều hướng nghiên cứu mới và phát triển xây dựng khung quản lý nước tuần hoàn phù hợp, hiệu quả đối với bối cảnh Việt Nam.