Khai thác, sử dụng nước mặt công trình thủy điện Móng Sến
Thủy điện Móng Sến là dạng thủy điện kiểu đường dẫn, hồ chứa không có khả năng điều tiết dài hạn mà chỉ có khả năng điều tiết ngắn hạn là điều tiết ngày đêm. Công trình tận dụng tối đa nguồn thủy năng trên suối để phát điện, kết cấu công trình đơn giản.
1. Phương thức khai thác sử dụng nước
Công trình thủy điện Móng Sến khai thác, sử dụng nước trên dòng suối Móng Sến có hồ chứa hoạt động theo chế độ điều tiết ngày đêm với dung tích toàn bộ 44000 m³, dung tích hữu ích là 34000 m³. Công trình đầu mối nằm trên suối Móng Sến, diện tích lưu vực tính đến tuyến đập là 27 km², diện tích lưu vực tính đến tuyến nhà máy là 36,9 km², đường dẫn nước từ cửa lấy nước đến nhà máy là đường hầm dẫn nước có áp, với công suất lắp máy 6 MW, điện lượng trung bình hàng năm 22,9 triệu KWh.
2. Chế độ và lượng nước khai thác sử dụng
Hồ chứa thủy điện Móng Sến vận hành theo chế độ điều tiết ngày đêm. Mực nước trong hồ được duy trì trong phạm vi từ cao trình MNC 1024 m đến cao trình MNDBT 1030 m. Lượng nước khai thác, sử dụng của công trình thủy điện Móng Sến là lượng nước sử dụng cho mục đích phát điện với các thông số chính: công suất lắp máy (Mlm) = 6,0 MW, công suất đảm bảo ứng với tần suất 80% là 0,33 MW, lưu lượng thiết kế (Qpđmax) = 2,45 m³/s, lưu lượng nhỏ nhất qua nhà máy 0,49 m³/s.
Nhà máy thủy điện Móng Sến ưu tiên phát điện: giờ cao điểm 5 tiếng, bình thường 13 tiếng, thấp điểm 6 tiếng, xả tràn.
- Mùa lũ (tháng 6-10): Tận dụng tối đa nguồn nước đến để phát điện khai thác với lưu lượng lớn nhất QTK = 2,45 m³/s, thời gian 24/24h. Lượng nước khai thác lớn nhất W = 211.680 m³/ngày đêm.
- Mùa kiệt (tháng 11-5): Thủy điện Móng Sến làm việc với chế độ ngày không hoàn toàn. Thời gian trung bình 5h/ngày, ưu tiên phát vào khung giờ cao điểm.