1. Hiện trang sử dụng và định giá tài nguyên nước trong nông nghiệp thực phẩm

Ngành nông nghiệp Việt Nam đã đạt được những bước tiến lớn, nhưng với chi phí môi trường ngày càng tăng. Việc sử dụng nước cho nông nghiệp phần lớn là truyền thống và chủ yếu dành cho các loại cây trồng cần nhiều nước, giá trị thấp, đặc biệt là lúa gạo. Mục tiêu của chính phủ là sản xuất 41-43 triệu tấn gạo vào năm 2020 và 44 triệu tấn vào năm 2030 đặt ra những thách thức về tăng trưởng doanh thu từ xuất khẩu, nâng cao chất lượng và đa dạng hóa. Việt Nam đang phải đối mặt với vấn đề kép là suy giảm thiệt hại và dòng nước thay đổi nhiều hơn. Khoảng 1.500 đập và hồ chứa vừa và nhỏ cần cải tạo và hiện đại hóa.

Mặc dù Chính phủ đã ban hành các quy định và khung pháp lý tái cân bằng cơ cấu chi tiêu trong ngành (Nghị định 143/2003 [1], Nghị định 115/2008 [2], Quyết định 158 [3], Thông tư 41/2013 [4], Nghị định 96/2018 [5]) nhưng hệ thống định giá tài nguyên nước hiện nay ở Việt Nam chưa thật sự hiệu quả và bền vững. Nông dân có rất ít động lực để tiết kiệm nước hoặc tối đa hóa năng suất nước, và các công ty quản lý thủy lợi phụ thuộc vào trợ cấp từ chính phủ. Chính phủ nên cân đối lại cơ cấu chi tiêu công trong ngành và khuyến khích nông dân trả phần chi phí hoạt động và vận hành lớn hơn.

2. Đề xuất quy định kỹ thuật định giá tài nguyên nước trong nông nghiệp thực phẩm

Các xác nhận về định giá và các hệ thống hỗ trợ ra quyết định trong bài viết này nhất quán với cách tiếp cận của Ngân hàng Thế giới về quản lý nước bền vững. Cách tiếp cận này coi nước là một lợi ích kinh tế và dựa trên giá cả, quản lý phi tập trung và sự tham gia của các bên liên quan [6], bao gồm các ưu điểm và hạn chế như sau:

- Nhận thức sự phức tạp và đa dạng của quản lý tài nguyên nước trong nông nghiệp;

- Tăng cường thể chế và quyền sở hữu đối với quản lý nước trong nông nghiệp;

- Đảm bảo phí cung cấp nước cho nông nghiệp (tối thiểu về chi phí cung cấp);

- Cải thiện sự chồng chéo giữa các chính sách nông nghiệp, nước, năng lượng và môi trường;

- Tăng cường khả năng phục hồi của nông nghiệp trước các tác động của biến đổi khí hậu;

- Cải thiện về kiến thức và thông tin hướng dẫn quản lý tài nguyên nước.

Tóm lại, định giá nước cho sản xuất lương thực nên xem xét các lợi ích kinh tế trực tiếp của việc sử dụng nước, cũng như các lợi ích về văn hóa, xã hội và môi trường. Những lợi ích này bao gồm an ninh lương thực, cải thiện dinh dưỡng, tạo việc làm, giảm nghèo, giảm thiểu biến đổi khí hậu và cung cấp dịch vụ nước đa mục đích. Giá trị an ninh lương thực của nước cao nhưng hiếm được định lượng.

Một cách tiếp cận mới và phù hợp hơn để phân bổ tài nguyên nước trong thế kỷ mới là cần thiết nếu dân số thế giới được cung cấp đầy đủ thức ăn mà không làm suy thoái và phá hủy thêm các dịch vụ hệ sinh thái quan trọng của hành tinh. Năng suất nước cần phải được tăng cường đáng kể và phân tích chi phí-lợi ích kinh tế và chế độ định giá có thể đóng một vai trò quan trọng trong quá trình như vậy.

Thông qua phân tích và đánh giá, các quy định kỹ thuật định giá tài nguyên nước được chứng tỏ sẽ có hiệu quả tốt trong việc quản lý và phân bổ nguồn tài nguyên nước đối với ngành nông nghiệp và thực phẩm. Những quy định này sẽ tạo điều kiện để nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng tài nguyên nước, tối ưu chi phí–lợi nhuận, phân phối tài nguyên công bằng hơn và giảm thiểu xung đột tiềm ẩn giữa chia sẻ các lưu vực nước.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Chính Phủ, Nghị định số 143/2003/NĐ-CP ngày 28/11/2003 hướng dẫn pháp lệnh khai thác và bảo vệ công trình thuỷ lợi. 2003.

[2] Chính Phủ, Nghị định số 115/2008/NĐ-CP ngày 14/11/2008 sửa đổi Nghị định 143/2003/NĐ-CP hướng dẫn pháp lệnh khai thác và bảo vệ công trình thuỷ lợi. 2008.

[3] Chính Phủ, Quyết định số 1580/QĐ-TTg ngày 09/09/2013 về việc phê duyệt quy hoạch chung xây dựng khu kinh tế cửa khẩu tỉnh đồng tháp đến năm 2030. 2013.

[4] Bộ Tài chính, Thông tư số 41/2013/TT-BTC ngày 11/04/2013 HƯỚNG DẪN NGHỊ ĐỊNH 67/2012/NĐ-CP SỬA ĐỔI NGHỊ ĐỊNH 143/2003/NĐ-CP HƯỚNG DẪN PHÁP LỆNH KHAI THÁC VÀ BẢO VỆ CÔNG TRÌNH THUỶ LỢI DO BỘ TÀI CHÍNH BAN HÀNH. 2013, pp. 1–18.

[5] Chính Phủ, NGHỊ ĐỊNH 96/2018/NĐ-CP NGÀY 30/06/2018 QUY ĐỊNH CHI TIẾT VỀ GIÁ SẢN PHẨM, DỊCH VỤ THỦY LỢI VÀ HỖ TRỢ TIỀN SỬ DỤNG SẢN PHẨM, DỊCH VỤ CÔNG ÍCH THỦY LỢI. 2018.

[6] G. J. Scott, M. W. Rosegrant, and C. Ringler, “Roots and Tubersfor the 21st CenturyTrends, Projections, and Policy Option,” Food, Agric. Environ. Discuss., 2000.